Cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: tuyengiao.vn.

Phong cách sống mang đậm nét văn hóa yêu nước, thương dân của con người Huỳnh Thúc Kháng

Sinh trưởng trong một gia đình nho học nghèo gốc nông dân, quê ở làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng vốn thông minh, chăm học, nên sớm nổi tiếng, là một trong “tứ hổ”[1] của đất Quảng có truyền thống yêu nước và hiếu học. Năm 1900, Cụ đỗ đầu thi Hương (Giải nguyên), năm 1904 đỗ đầu thi Hội (Hội nguyên).

Có thể nói, Huỳnh Thúc Kháng đã sớm nuôi dưỡng chí khí của một người biết hy sinh vì nước vì dân, nhưng phải đợi đến khi đạt vinh quy bằng khoa bảng, đến khi người cha thân yêu qua đời, đồng thời ông lại được người vợ chính[2] biết hy sinh cho chồng. Suốt 45 năm bà đã “ngậm đắng nuốt cay sớm tần, chiều tảo…”[3] bấy giờ Huỳnh Thúc Kháng mới có điều kiện “bôn tẩu việc nước”, mới bộc lộ được những gì nung nấu tâm can từ thời thơ ấu. Nhắc đến cụ Huỳnh – con người có thái độ cương trực, ngay thẳng, không biết xu nịnh, không sợ cường quyền, không tham danh vọng… là người chiếm được nhiều tình cảm trong nhân dân huyện Tiên Phước cũng như nhân dân cả nước.

Với kiến thức học vấn ngày càng sâu rộng, Huỳnh Thúc Kháng mở tầm mắt nhìn thời cuộc ra ngoài biên giới, như phảng phất nghe súng nổ qua các sự kiện Mậu Tuất chính biến (1898) và Canh Tý liên binh (1900). Những tác phẩm của các lãnh tụ Duy tân Trung Quốc: Khanh Hữu Vi, Lương Khải Siêu cùng với sách của các nhà tư tưởng dân chủ Pháp: Môngtexkiơ, Vônte, Rútxô được đưa vào Việt Nam qua các nhân sĩ Thân Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ và người Hoa ở Việt Nam, đến với giới trí thức nho học, cảnh tỉnh họ, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng.

Học giỏi, đỗ cao, tiếng tăm lừng lẫy, nhưng Huỳnh Thúc Kháng không chịu ra làm quan cho triều Nguyễn, vì lúc này, chế độ phong kiến đã suy thoái, phản động, cam tâm làm tay sai cho giặc Pháp. Vì sớm nhận thức được cái nhục mất nước, mất quyền dân nô lệ, cụ Huỳnh đã cùng với các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp… tìm đường cứu nước. Các Cụ đã phát động ở miền Trung một phong trào duy tân cải cách văn hóa – xã hội, lên án tệ khoa cử, chủ trương “tân học”, tuyên truyền tư tưởng dân quyền, dân chủ, lập các hội nông, thương, học… (tức là những tư tưởng mới mà các Cụ vừa tiếp thu được qua “tân thư”, “tân văn” từ Trung Quốc truyền sang, cùng với những tư tưởng tư sản Tây Âu, Nhật Bản ảnh hưởng đến nước ta lúc bấy giờ), để làm nền tảng cho sự nghiệp cứu nước. Đồng thời các Cụ cũng vận động tư trợ tiền bạc cho anh em Đông Du của phong trào Phan Bội Châu. Những tư tưởng “mới” này kết hợp với những yêu cầu về kinh tế của nhân dân, đã dẫn đến một phong trào chống sưu thuế rất rầm rộ ở Trung Kỳ năm 1908. Bọn thống trị đã đàn áp phong trào đẫm máu. Nhân vụ này, cụ Huỳnh bị thực dân Pháp bắt kết án và đày ra Côn Đảo. Suốt 13 năm bị tù đày (1908 - 1921), Cụ phải chịu đựng đủ mọi thứ cực hình, nhưng vẫn không thể khuất phục nổi ý chí bất khuất, tinh thần lạc quan tin tưởng ở Huỳnh Thúc Kháng. Sống trong cái “địa ngục trần gian” mà Cụ còn gọi là “trường học thiên nhiên” này, đã góp phần rèn giũa người chiến sĩ thêm già dặn cứng cáp, đặng rồi đây khi ra tù, sẽ lại một phen quyết đấu với kẻ thù. Cụ còn tận dụng thời gian ít ỏi và điều kiện vật chất hết sức hạn chế để làm thơ, để tự học tiếng Pháp đến mức có thể sử dụng thành thạo. Khi ra tù trở về đất liền, Cụ đã tự hào nói lên bản lĩnh của mình qua vần thơ cảm tác:

“… Trong người rèn đúc lòng như sắt,

Gặp cảnh đâu đâu cũng thuận dằm”.

Ra tù (1921), Cụ trở về quê dạy học, đọc sách, làm thuốc. Bọn thực dân tìm đến dùng tiền tài, địa vị để mua chuộc Cụ ra “cộng tác” với chúng ở cơ quan văn hóa này, ở viện bảo tàng nọ… Chúng cũng tưởng sau 13 năm tù đày gian khổ Cụ đã bị nhụt chí, nay có thể lợi dụng uy tín cũ của Cụ để mê hoặc dân ta. Khi tên khâm sứ Trung Kỳ Passquier mời Cụ giữ một chức quan ở Viện Bác cổ Huế, Cụ đã khinh bỉ trả lời thẳng vào mặt hắn: “Tôi chỉ có một cái tội là đậu Tiến sĩ mà không đi làm quan nên mới bị đi tù. Trước đã thế, huống chi bây giờ, xin ngài miễn nói đến việc ấy”. Việc Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ, không ra làm quan theo thể chế của triều đình, có ý bài xích quan trường, làm cho Khâm sứ và Hoàng triều khó chịu về thái độ ngang ngược đó của Cụ. Nhưng Cụ là con người như vậy: Khảng khái, kiên quyết và đầy nghĩa khí.

Những đóng góp tích cực cho phong trào cách mạng độc lập dân tộc, dân chủ của Cụ Huỳnh

Đề cập đến tờ báo Tiếng Dân của Cụ Huỳnh, trong đó có những điểm hạn chế về mặt tư tưởng. Nhưng trên thực tế, từ tấm lòng và tâm huyết vì nước, vì dân của Cụ, Tiếng Dân đã có những cố gắng đóng góp đáng ghi nhận. Nhiều bài đăng trên Tiếng Dân nói lên nỗi thống khổ của các loại lao động phu xe, y tá hộ lý, binh lính, thị dân, công nhân… Tiếng Dân phê phán việc học đòi cái mới đến mức quên cội nguồn. Tác giả đã hỏi một cách chua chát rằng “quê hương nhà học giả ở đâu? Kẻ đã bị cái văn minh xác thịt ấy ám ảnh thì trương mày, trợn mắt công nhiên chỉ vào hiệu buôn, nhà máy, công sở”. Tiếng Dân còn là tờ báo đả kích, chống đối chính quyền thực dân phong kiến, tố cáo những hành vi bạo ngược của người Pháp. Nội dung các bài báo chê nhiều hơn là khen đã trước sau như một trung thành với mục đích bênh vực quyền dân. Báo tố cáo chính quyền nói thì nhân nghĩa mà làm thì dã man, tàn bạo. Tiếng Dân còn cung cấp nhiều tin tức về hoạt động cộng sản và phong trào công nhân. Năm 1929 trên mặt báo liên tiếp 10 số liền xuất hiện bài “tư tưởng mới” với những tiêu mục như “Thời đại cách mạng”, “Tư tưởng tiến hóa của Đác-uyn”, “Sự thống trị của giai cấp xí nghiệp”, “Thuyết duy vật lịch sử quan của Các Mác”, “Giai đoạn mới của văn minh”, “Hy vọng của thanh niên ta vào tương lai sẽ đi theo con đường nào”.

Với 16 năm hoạt động, Tiếng Dân thực sự là cơ quan ngôn luận của dân chúng bênh vực quyền lợi cho mình. Tiếng Dân dũng cảm vạch trần sự xảo trá của chính quyền thực dân, công khai tuyên truyền tư tưởng cách mạng và hoạt động cách mạng của nhân dân, căm thù đế quốc, phong kiến, nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng.

Đặc biệt, sự kiện khẳng định sự chuyển biến thực sự trong tư tưởng và hành động của Huỳnh Thúc Kháng chính là Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Điều mà Cụ chờ mong nay đã thành hiện thực. Trước sự kiện lịch sử vĩ đại này, Cụ đã nói lên sự khoái trá vô biên của lòng mình:

“Sướng ôi là sướng ! thoát thân nô mà làm chủ nhân ông.

Vui thật là vui ! Đổi quyền vua mà làm dân quốc mới”.

Cụ nói với mọi người: “Nền Độc lập 2-9 rõ ràng là toàn dân Việt Nam chúng ta đấu tranh mà được”. Cụ Huỳnh cũng biết rất rõ, người lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám là Đảng Cộng sản, là Mặt trận Việt Minh mà đứng đầu là cụ Hồ Chí Minh. Đất nước vừa giành được độc lập, còn biết bao nhiêu là công việc ngổn ngang, mọi người dân yêu nước phải đồng lòng chung sức gánh vác. Cụ Huỳnh thấy không thể ngồi yên được. Tuy đã 70 tuổi, Cụ vẫn muốn đóng góp cho việc xây dựng Tổ quốc mến yêu của mình.

Cũng là lúc Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến thành lập, để đáp ứng yêu cầu Cách mạng trong giai đoạn mới đầy khó khăn phức tạp. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mời Cụ Huỳnh tham gia Chính phủ. Trước khi lên đường ra Hà Nội, cụ Huỳnh nói là: “Tôi chỉ muốn ra gặp Cụ Hồ để bày tỏ một vài ý kiến. Còn việc gì khác thì tôi không thể nhận”. Cụ nghe tiếng Nguyễn Ái Quốc (con cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, bạn đồng khoa với cụ Phan Châu Trinh từ năm 1904) đã lâu, bây giờ cần phải gặp Người để trao đổi ý kiến đã. Tính cụ Huỳnh vốn thận trọng như vậy. Nhưng đã là một nhà yêu nước chân chính, đương lúc “Quốc gia hữu sự” lẽ nào lại ngồi yên? Tuy vậy, Cụ vẫn còn một chút phân vân: Có thật Chính quyền cách mạng thật lòng tin dùng mình không? Nhưng thấy chính sách đoàn kết của Việt Minh thật quang minh chính đại, Cụ đã yên tâm. Rồi khi ra Hà Nội, lần đầu tiên tiếp xúc với cụ Hồ, cụ Huỳnh đã hoàn toàn bị thuyết phục trước vị Lãnh tụ đầy tài năng và vô cùng sáng suốt này. Về “sự kiện” này trong Hồi ký chính trị của Giám đốc Công an Trung Bộ Nguyễn Văn Ngọc, lúc đó được Chính phủ giao nhiệm vụ mời cụ Huỳnh từ Huế ra Hà Nội, đã ghi nhận: “Ra Hà Nội và chỉ gặp cụ Hồ trong chốc lát, cụ Huỳnh đã đồng ý ở lại luôn Hà Nội. Ở lại bên cạnh cụ Hồ mà không về Huế nữa! Thế mới biết tài cảm hóa và thuyết phục của cụ Hồ như thế nào! Một ông già cao đạo khó tính như cụ Huỳnh, mà chỉ buổi đầu tiếp xúc với cụ Hồ đã hoàn toàn tự nguyện làm việc cho Người – mà làm việc rất đắc lực – thật là kỳ lạ!”[4].

Ngày 2-3-1946 báo cáo việc thành lập chính phủ kháng chiến trước Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu những người trong chính phủ; đến “Bộ Nội vụ: Một người đạo đức, danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: cụ Huỳnh Thúc Kháng”. Từ đó, Huỳnh Thúc Kháng tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước trong thời điểm cực kỳ khó khăn, đứng trước những thử thách hết sức lớn lao, chống thù trong giặc ngoài, xây dựng lực lượng về mọi mặt để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp trở lại xâm lược.

Bấy giờ, để mở rộng Mặt trận Đoàn kết dân tộc, tập hợp đông đảo các lực lượng yêu nước gồm các đảng phái chính trị, các tôn giáo, các dân tộc, các giai cấp và các giới đồng bào… vào hàng ngũ chống Pháp, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam tức Liên Việt được thành lập. Cụ Huỳnh là một trong những sáng lập viên của Hội và được bầu làm Hội trưởng.

Trong mấy tháng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp, với thái độ chân thành quý trọng và tín nhiệm ở tinh thần yêu nước, đạo đức cao thượng, Chủ tịch đã ủy nhiệm Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch. Quyền Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng mang hết tài năng, ý chí, nghị lực để cùng các thành viên trong chính phủ chăm lo việc nước, trong đó có sự kiện làm cho cả nước vui mừng, kính mến Cụ là quyết định tiêu diệt bọn phản quốc, mang danh Việt Nam quốc dân đảng phá rối trị an, làm tay sai cho bọn phản động quốc tế âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân và cả những hành động lưu manh cướp của, giết người. Do vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi đi Pháp về, đọc lời tuyên bố với quốc dân ngày 23-10-1946, trong đó có mấy câu bày tỏ như sau:

“Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh Quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ.

Tôi cảm ơn Chính phủ, Quốc hội và toàn thể đồng bào”[5].

Tháng 11-1946, Quốc hội ta cải tổ lại Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, thanh trừ hết bọn việt gian phản động, cụ Huỳnh lúc này đã quá già yếu, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tường trình trước Quốc hội:

“Chính phủ mới phải tỏ rõ cái tinh thần đại đoàn kết, không phân đảng phái. Sau khi được Quốc hội ủy nhiệm cho tổ chức Chính phủ, tôi đã thăm dò ý kiến nhiều bậc lão thành, đại biểu các đoàn thể cùng các nhân sĩ các giới.

Kết quả là, có những vị có tài năng nhận lời tham gia Chính phủ: như cụ Huỳnh Thúc Kháng, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu Cụ, Cụ cũng gắng ở lại… ai nấy đều hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì nước và vì dân”[6].

Sau đó, cụ Huỳnh thay mặt Chính phủ Trung ương đi kinh lý miền Trung. Vào thời gian này, giặc Pháp bắt đầu đánh chiếm Hải Phòng, rồi gây hấn ở Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” nói lên quyết tâm của nhân dân ta “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[7]. Hưởng ứng lời hịch vang vọng khắp núi sông ấy, cụ Huỳnh với tư cách là Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, cũng phát đi bức thư “Kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến”. Trong đó, Cụ nhấn mạnh:

“Hãy tin tưởng vào Cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia”. Mọi người hãy đồng lòng đồng chí “đoàn kết chặt chẽ một khối”, quyết sống mái với kẻ thù… Tổ quốc sẽ “độc lập quang vinh muôn năm”.

Trên đường đi kinh lý miền Trung, hễ có dịp tiếp xúc với nhân dân trong các buổi mít tinh đón tiếp là cụ Huỳnh lại truyền đạt đường lối kháng chiến cứu nước của Hồ Chủ tịch, Chính phủ và Mặt trận. Trong bài nói chuyện tại Quảng Bình, người ta còn ghi lại những lời nói qua giọng rắn rỏi, đanh thép và quyết tâm của Cụ như sau:

“Đánh! Đánh! Già trẻ, trai gái, lương giáo, lao động, trí thức! Chúng ta phải đồng lòng đứng lên, đứng mạnh lên mà đánh đuổi bọn thực dân, rửa hận cho tiên linh của chúng ta đã bị chúng nó bắn, đã bị chúng nó chém.! Chúng ta đánh đủ mọi mặt: đánh về quân sự, về chính trị, về kinh tế, về văn hóa. Chúng ta đánh bằng sung đạn, bằng dao gậy, bằng mọi thứ khí giới có sẵn trong tay. Chúng ta không sợ máy bay, tàu lặn của chúng nó. Đồ bỏ! Đồ bỏ cả, trước sự đồng tâm của chúng ta, của toàn dân chúng ta, của cả một dân tộc trên hai mươi triệu người.

Toàn dân kháng chiến! Toàn diện kháng chiến! Xin bà con hãy đồng lòng!”[8].

Khi về đến quê hương Quảng Nam, lúc đó ở vài nơi có một số thân sĩ trí thức có ít nhiều thắc mắc làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết toàn dân, cụ Huỳnh đã tận tình giải thích, thuyết phục họ ủng hộ chính quyền cách mạng. Cụ nói:

“Hôm nay lấy danh nghĩa là một người thầy, một người bạn cũ có nhiều kinh nghiệm ở đời, tôi nói chuyện với các chú. Nếu các chú không nghe lời tôi, sau này các chú đừng trách, tôi sẽ lấy danh nghĩa là đại diện của Chính phủ Trung ương mà thẳng tay trừng trị”[9].

Tiếp tục cuộc hành trình. Vào đến Quảng Nghãi, cụ Huỳnh không may bị ốm. Tuổi đã cao, sức lại quá yếu, biết không thể qua khỏi, Cụ đã chu đáo gửi điện “Chào vĩnh biệt anh em binh sĩ”, “những vị anh hùng vô danh của đất nước”, chúc anh em “hãy vì sự nghiệp độc lập của Tổ quốc mà hăng hái chiến đấu”. Cụ cũng gửi điện “Kêu gọi anh em các đảng phái, tôn giáo” “hãy hết lòng tin tưởng và thực hiện ngay đại đoàn kết chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc”. Và Cụ cũng gửi riêng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh bức điện nói những lời cuối cùng hết sức cảm động:

“Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang hạnh phúc!

Chào vĩnh quyết.”

Cụ Huỳnh thở hơi cuối cùng vào ngày 21-4-1947 tại Quảng Ngãi, hưởng thọ 71 tuổi. Được tin đau buồn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài thơ điếu viết bằng chữ Hán và tự dịch như sau:

“Than ôi!

Bể Đà Nẵng triều thảm.

Đèo Hải Vân mây sầu!

Tháng tư tin buồn đến.

Huỳnh Bộ trưởng đi đâu?

Trông vào Bộ Nội vụ,

Tài đức tiếc thương nhau!

Đồng bào ba chục triệu,

Đau đớn lệ rơi châu!”[10]

Đồng thời, để tỏ lòng thương tiếc và biết ơn nhà chí sĩ suốt đời tận tụy vì Tổ quốc, cả nước đã treo cờ rủ và cử hành trọng thể lễ truy điệu Cụ.

Để khắc họa tấm gương hết lòng vì nước, vì dân của cụ Huỳnh, xin trích lại Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi toàn thể đồng bào sau ngày Cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế:

“Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước, mà trước đây Cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn đảo mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.

Cả đời Cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân tộc được tự do, nước được độc lập…”.

Ngày nay công cuộc đổi mới đất nước đã thu được những thành tựu lớn có ý nghĩa lịch sử và đang thu hút sự đóng góp tích cực của mọi người Việt Nam yêu nước dù ở trong hay ngoài nước. Tấm gương nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng và những đóng góp của Cụ cho thấy, một là chính sách đoàn kết mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thật đúng đắn, sáng suốt, góp phần tăng cường sức mạnh cho cách mạng Việt Nam; mặt khác, tinh thần yêu nước thực sự, chân thành hướng về người dân lao động của những người yêu nước như Cụ Huỳnh tất yếu nhập cuộc với dòng thác cách mạng độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân.

Bài học để lại, không chỉ là một tấm gương mẫu mực một Cụ Huỳnh: Kiên nghị, suốt đời trăn trở, hết lòng cống hiến vì nước, vì dân dù trải qua biết bao khốn khó dập vùi – mà còn là bài học về huy động sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, về xây dựng và thực hiện chính sách “chiêu hiền, đãi sĩ” trong cuộc cuộc thúc đẩy đổi mới đồng bộ, toàn diện đất nước hiện nay./.

 


[1] Bốn người học giỏi, đỗ cao của Quảng Nam: Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến và Phạm Liệu.

[2] Nguyễn Thị Sắt (con gái út bá hộ Nguyễn Văn Như ở Đại Đồng).

[3] Tờ chúc thư của Huỳnh Thúc Kháng với gia đình (dịch nguyên văn chữ Hán, viết tại Huế ngày 11-9 năm Bảo Đại thứ 18), tr.2.

[4] Nguyễn Văn Ngọc: Điệp viên nhảy dù thành Giám đốc công an Trung Bộ, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 1988, tr.201

[5] Hồ Chí Minh. Toàn Tập, Tập 4, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr. 170.

[6] Hồ Chí Minh. Toàn Tập, Tập 4, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr. 177.

[7] Hồ Chí Minh. Toàn Tập, Tập 4, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr. 202

[8] Dẫn theo Nguyễn Q.Thắng trong Huỳnh Thúc Kháng – Con người và thơ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, tr.225

[9] Như trên, tr.229

[10] Theo bản sưu tầm của C.T đăng trên Tuần báo Văn nghệ số 20 ra ngày 16-5-1992

ThS. Nguyễn Thị Ánh/ĐCSVN